Trụ trì chùa Ba Vàng Thích Trúc Thái Minh: Muốn làm chủ cuộc đời, trước hết phải làm chủ "vườn tâm"

Ngày 21/04/2026

 -  5 Lượt xem

Trụ trì chùa Ba Vàng Thích Trúc Thái Minh: Muốn làm chủ cuộc đời, trước hết phải làm chủ "vườn tâm"

Từ một giảng viên đại học say mê khoa học, thầy Thích Trúc Thái Minh đã chọn rẽ lối sang con đường tu hành – một hành trình dấn thân mà thầy gọi là "phụng sự chúng sinh"...

Từ một giảng viên đại học say mê khoa học, thầy Thích Trúc Thái Minh đã chọn rẽ lối sang con đường tu hành – một hành trình dấn thân mà thầy gọi là "phụng sự chúng sinh". Gần 20 năm gắn bó với chùa Ba Vàng từ những ngày sơ khai thiếu thốn với "nhiều số 0 tròn trĩnh” khi không điện – không đường - không nước, thầy đã cùng người dân địa phương kiến tạo nên một không gian tâm linh được trao bằng kỷ lục ngôi chùa có tòa Chính điện trên núi lớn nhất Đông Dương.

 

Trụ trì chùa Ba Vàng Thích Trúc Thái Minh (thứ 3 từ trái sang) trong buổi trò chuyện với các phóng viên báo điện tử Dân Việt.

Trong cuộc trò chuyện với PV Dân Việt vào những ngày cuối tháng Tư, Trụ trì chùa Ba Vàng Thích Trúc Thái Minh chia sẻ sâu sắc về triết lý "phản quang tự kỷ", về chuyện "làm sạch" nông nghiệp từ tâm thế của người nông dân, đồng thời thẳng thắn nói về những sự buông bỏ, hy sinh nỗi niềm riêng để đi đến tận cùng lý tưởng đã chọn.

Thưa thầy Thích Trúc Thái Minh! Ai cũng có một câu chuyện riêng và câu chuyện của thầy là chọn con đường tu hành để phục vụ đạo, phục vụ đời. Thầy có thể kể về hành trình dấn thân đó?

- Từ nhỏ, tôi đam mê và yêu thích khoa học nên những năm cấp 3 đã theo học trường chuyên của tỉnh về môn Toán, Lý. Sau khi đủ duyên, tôi thi vào Đại học, tốt nghiệp ra trường và được giữ lại làm cán bộ giảng viên.

Trong thời gian này, tôi có cơ hội nghiên cứu về triết học, đặc biệt là các tôn giáo lớn trên thế giới. Khi nghiên cứu đến Phật giáo, tôi rất thích thú. Dù gia đình có truyền thống đạo Phật từ đời ông bà đã có tâm hướng Phật, nhưng chính khi nghiên cứu sâu, tôi thấy trong giáo lý Phật giáo có nhiều triết học cao siêu và tính khoa học trong đó. Bản thân là người yêu thích khoa học nên ngay thời điểm đó, giáo lý Phật giáo đã hấp dẫn tôi. Tôi định hướng rõ ràng đây là con đường mình đã chọn.

Sau đó, tôi dành thời gian tới chùa Quán Sứ nghiên cứu Phật pháp. Khi đã đủ duyên, tôi xin phép gia đình, xin nghỉ công việc để đi xuất gia.

Tâm nguyện của tôi khi theo Phật với lý tưởng đạo Phật “phụng sự chúng sinh”. Nhà Phật gọi là “Thượng cầu hạ hóa” – tức là trước hết mình cầu giác ngộ, sau là hóa độ chúng sinh. Đó là lý tưởng mà tất cả đệ tử Phật chân chính đều hướng đến và tôi cũng mang tâm tư như vậy. 


Nhìn vào tầm vóc của chùa Ba Vàng hôm nay - điểm đến hội tụ cả giá trị tâm linh, văn hóa và giáo dục nhận thức cho giới trẻ, ít ai hình dung được điểm khởi đầu của gần 20 năm trước. Cơ duyên nào đã đưa thầy Thích Trúc Thái Minh về đây, và bằng cách nào thầy cùng cộng đồng kiến tạo công trình này từ những ngày sơ khai nhất?

- Khi quyết định xuất gia, tôi cũng phải chọn thầy, vì các sư ở Việt Nam rất nhiều. Cuối cùng, tôi chọn Hòa thượng Thích Thanh Từ làm thầy và tu tập tại Thiền viện Trúc Lâm Đà Lạt. Một thời gian sau, Hòa thượng cử tôi ra Bắc để xây dựng Thiền viện Trúc Lâm Yên Tử. Sau khi xây dựng xong và công tác, tu tập ở đó một thời gian, nhân dân Uông Bí có lời mời tôi về nhận chùa Ba Vàng. Khi đầy đủ nhân duyên, tôi được Ban Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam Quảng Ninh chính thức bổ nhiệm về đây.

Những ngày đầu, chùa này chỉ là một phế tích từ khoảng thế kỷ 17, được nhân dân dựng tạm lên như một am thờ. Nhưng lần đầu đến thăm, tôi cảm nhận nơi đây có chiều sâu tâm linh rất lớn, một  không gian khiến mình cảm mến. Tuy nhiên, để xây dựng chùa Ba Vàng từ những ngày đầu tiên là vô cùng gian khổ, có thể nói "rất nhiều số 0". Đường lên chùa gần như không có, chỉ là lối mòn của người dân đi rừng; điện nước cũng không. Nước chỉ có một cái giếng cổ nhỏ, múc được vài gánh là hết sạch. Quả thật, đó là giai đoạn "thiên nan vạn nạn". Thế nhưng, tôi nghĩ đây là duyên nên đã phát nguyện với Phật: "Nếu thật sự con có duyên ở đây, xin Phật độ trì cho".

Hành trình sau đó gian nan không kém! Tôi vận động nhân dân mở đường và thú thật là hoàn toàn làm chịu hết. May mắn các doanh nghiệp địa phương rất tốt, họ quý việc làm chùa nên cho nợ, cứ ghi số nợ vào sổ thôi. 

Mở được đường xong, tôi tiếp tục nghĩ cách đưa nước về từ rừng sâu cách chùa 3km. Khi có nước rồi mọi thứ mới “hồi sinh”, cây cối xanh tươi trở lại, chứ thời điểm tôi mới về chùa, nhất là dịp hè nắng nóng và thiếu nước khiến cây cối héo úa cả.

Sau đó là tìm cách đưa điện về, bởi đường - điện - nước là ba vấn đề căn bản nhất. Việc xây chùa hoàn toàn dựa vào bà con phát tâm dần chứ không có kinh phí lớn ngay từ đầu. Chúng tôi cứ vừa làm vừa mua chịu, từ mua sắt, gạch ngói, xi măng… đều chịu tiền. Các doanh nghiệp thấy các sư nhiệt tình nên họ quý mến và sẵn lòng giúp. Đến bà con thấy vậy cũng phát tâm, người đóng góp mấy chục mét ngói, người góp mấy chục vạn gạch… Cứ như vậy, từ năm 2011, chúng tôi khởi công xây dựng ngôi chùa này.

Có thể nói, nhân dân mình rất tín Phật. Việc xây dựng được chùa Ba Vàng cũng khẳng định quyền tự do tín ngưỡng của nước ta được thực hiện tốt, bởi nếu không có sự đồng thuận và điều kiện thuận lợi đó thì khó lòng làm được. Chính nhờ nhân dân có tự do tín ngưỡng nên mới phát tâm cung tiến công đức để cùng chúng tôi xây dựng được chùa Ba Vàng như hiện nay.

 

Dưới góc nhìn của những người quan sát, sức hút của chùa Ba Vàng không dừng lại ở sự bề thế của công trình, mà ở một nguồn năng lượng tích cực khác biệt. Phật tử về đây mặc đẹp, thể hiện những ước mong cá nhân trước Phật một cách tự nhiên mà không hề kệch cỡm. Điều gì đã tạo nên sự khác biệt này và cách thu hút được đông đảo giới trẻ, cũng như các tầng lớp xã hội đến với chùa Ba Vàng là gì, thưa thầy?

Tôi nghĩ, Đạo Phật không ngoài nhân duyên, nhưng mọi sự đều xuất phát căn bản từ cái tâm của mình. Như đã chia sẻ, tôi đi xuất gia với tâm nguyện phụng sự chúng sinh chứ không phải để làm một cái "nghề" nào đó. Tôi thấy mình đang được sống với lý tưởng cao đẹp là xả thân lo cho đạo, lo cho đời. Chính vì tâm thế đó, nên tất cả bà con đến Ba Vàng đều thấy chùa hoàn toàn không có bất kỳ hoạt động kinh doanh hay thu phí nào.

Với tôi, tất cả đều là phụng sự. Tôi quan niệm: “Một người đến được với Phật là xã hội thêm một người tốt”. Đó là điều quý giá nhất đối với một người xuất gia. Mọi hoạt động của chùa đều hướng tới việc giúp mọi người kết thiện duyên với Phật để trở thành người thiện, người tốt cho xã hội, đất nước. Chính từ tinh thần phụng sự ấy, ai đến chùa cũng được đón tiếp chu đáo như người thân trong nhà.

Tôi luôn tâm niệm: “Ngôi chùa phải trở thành ngôi nhà của Phật tử, của nhân dân”. Bởi vậy, ai về đây cũng chung một cảm xúc như được trở về nhà mình. Bà con thường gọi chùa Ba Vàng là “Nhà Lớn”. Đó mới là điều khiến ngôi chùa có sức hấp dẫn bền vững, chứ không hẳn vì chùa to hay cảnh đẹp. Cảnh đẹp người ta có thể đến một, hai lần cho biết, nhưng để ngôi chùa thực sự là chốn trở về thì ở đó phải có “tình Đạo – tình Đời – tình Người”, để ai về cũng cảm thấy an lành.


Nhìn lại chặng đường 40 năm Đổi mới đất nước, không thể phủ nhận vai trò trụ cột của nông dân trong bức tranh toàn cảnh của đất nước. Dưới góc độ một nhà tu hành xuất thân từ một nước nông nghiệp, thầy có lời khuyên gì để người nông dân phát triển một nền nông nghiệp lành mạnh, thực hiện đúng sứ mệnh mang lại "cơm no, hạnh phúc" cho xã hội?

- Việt Nam là một nước nông nghiệp, những người tu hành cũng đa phần từ nông dân mà ra nên rất thấu hiểu sự chân chất, tần tảo của bà con. Trong cơ cấu đất nước, dù công nghiệp có phát triển đến đâu thì nông nghiệp vẫn là nền tảng cốt yếu, bởi cái ăn là nhu cầu đầu tiên. Một đất nước có thể giàu có nhờ công nghiệp, nhưng nếu xảy ra biến động xã hội hay thiên tai mà không chủ động được lương thực thì sẽ rất nguy hiểm. Vì vậy, vai trò của người nông dân phải luôn được đề cao.

 

Người ta thường nói: “Thức ăn chính là con người”, bởi thân thể chúng ta từ thức ăn mà ra. Thức ăn lành mạnh thì con người mới khỏe mạnh, xã hội mới tốt đẹp. Tôi mong bà con nông dân sản xuất bằng cái tâm - điều mà nhà Phật gọi là “phải làm việc có tâm”. Khi trồng cây, nuôi con vật, mình phải làm sao để tạo ra sản phẩm sạch, an toàn cho xã hội. Đó cũng là cách bảo vệ chính mình.

Theo đạo lý nhân duyên của nhà Phật, mình làm khổ người thì mình cũng sẽ khổ; khi mình làm cho người an lạc, hạnh phúc thì mình mới được hạnh phúc. Nếu người nông dân chỉ vì lợi ích trước mắt, bất chấp tất cả để sản xuất thực phẩm không tốt thì chính bản thân và con cháu mình sẽ phải “trả quả” về sau. Một người nông dân có tri thức và hiểu biết về đạo lý nhân quả sẽ không bao giờ dám làm ra những sản phẩm độc hại. 

Tôi nghĩ Phật tử hầu như không dám làm điều đó. Tôi mong nền nông nghiệp Việt Nam là một nền nông nghiệp sạch. Điều này đòi hỏi người nông dân phải được học và có đạo đức. Hãy coi việc làm đồ ăn cho người khác cũng giống như làm cho chính mình, đừng vì lợi ích cá nhân mà bất chấp tất cả, để lại hậu quả khôn lường cho chính mình và xã hội.


Triết lý “làm việc có tâm” thầy vừa chia sẻ dường như đã được hiện thực hóa ngay tại khuôn viên chùa Ba Vàng khi nhà chùa có những vườn rau sạch, những bữa cơm chay không chỉ ngon về vị giác mà còn đẹp về thị giác. Thầy có thể “bật mí” về cách nhà chùa canh tác và sự tận tâm của những người làm bếp khi đón tiếp du khách, Phật tử trở về nơi đây?

- Tại chùa Ba Vàng, tôi quyết định dành một quỹ đất riêng để làm vườn rau sạch, cung cấp thực phẩm cho Tăng Ni, Phật tử và du khách thập phương. Quan điểm của nhà chùa là canh tác hoàn toàn tự nhiên không hóa chất, không thuốc trừ sâu. Chúng tôi chỉ sử dụng phân xanh, phân chuồng để đảm bảo sự thuần khiết và an toàn nhất cho người sử dụng.

Khi những sản phẩm đó được mang về nấu nướng, các Phật tử nấu bếp tại chùa Ba Vàng đều phải đọc một lời phát nguyện trước Phật: “Làm sao để hôm nay con nấu những thức ăn này cho người ăn được mạnh khỏe, tốt đẹp”.

Có lẽ chính vì có thêm cái tâm đó mà mọi người khi về chùa ăn cơm đều cảm thấy ngon miệng hơn. Bởi trong mỗi món ăn không chỉ có hương vị của nông sản sạch, mà còn có hương vị của tình người và sự ứng xử chân thành dành cho nhau.

Nhiều ý kiến cho rằng, tại chùa Ba Vàng, thầy đã và đang thực hiện một lối "ngoại giao văn hóa" rất hiệu quả thông qua việc kết nối Phật tử thập phương, các cộng đồng và nhà tu hành quốc tế. Vậy có thể coi đây là một dạng ngoại giao tôn giáo” hay không, thưa thầy?

Là người Việt Nam, dù ở bất kỳ lĩnh vực hay thành phần nào, chúng ta đều mang sứ mệnh làm vang danh đất nước. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói về khát vọng đưa dân tộc sánh vai với các cường quốc năm châu. Và tôi cho rằng, sự "sánh vai" ấy không chỉ nằm ở vật chất mà còn ở giá trị con người và nhân cách.

Chùa Ba Vàng là một trong những ngôi chùa lớn trong nước, thường xuyên đón tiếp các phái đoàn chư tăng, khách quốc tế và các vị đại sứ đến thăm. Vì vậy, chúng tôi tự xác định nhà chùa là nhịp cầu mang văn hóa, giá trị cao quý của dân tộc đến với bạn bè quốc tế.

Đây là đối ngoại, và tôi nghĩ tôn giáo cũng là một kênh "đối ngoại nhân dân" quan trọng cho Đảng và Nhà nước. Phật giáo vốn mang tính quốc tế; khi Phật giáo nước ta và các nước có mối quan hệ tốt đẹp, tự nhiên tình hữu nghị giữa các quốc gia cũng xích lại gần nhau hơn. Tôi thường ví von: Giống như hai ông hàng xóm, nếu các con chơi thân với nhau thì bố mẹ cũng dễ trở nên thân thiết. Không ai trao cho mình sứ mệnh này cả, nhưng tự thân chúng tôi thấy mình có trách nhiệm và bổn phận phải lan tỏa giá trị Việt Nam ra thế giới.
 

Thầy có thể tiết lộ cách chùa Ba Vàng vận hành các hoạt động văn hóa, ngoại giao này để đạt được sự chuẩn xác nhưng vẫn đậm đà bản sắc?

Đương nhiên, chùa Ba Vàng là một tổ chức nên mọi hoạt động đều phải có sự chuẩn bị kỹ lưỡng. Khi đón một đoàn khách, chúng tôi đều lên chương trình, kế hoạch chi tiết từ khâu đón tiếp, lễ tân cho đến ăn uống, sinh hoạt… Trong chùa cũng có các sư thầy thông thạo ngoại ngữ để trực tiếp chia sẻ về nét đẹp văn hóa Việt Nam với khách quốc tế.

Tuy nhiên, điều quan trọng nhất trong đối ngoại, tôi nghĩ vẫn là sự cảm thông giữa con người với con người ở cái tâm. Hình thức chỉ là một phần, điều cốt yếu là khách phải cảm nhận được sự ấm áp và chân thành. Những người đến với chùa Ba Vàng sẽ thấy không phải vì mâm cao cỗ đầy mà họ cần sự mộc mạc, thật lòng của mình. Đó mới là điều khiến họ quý mến nơi này. Đây cũng là giá trị bền vững mà chúng tôi hướng tới khi chú trọng vào cảm xúc và sự kết nối từ bên trong nhiều hơn là vẻ bề ngoài.

Chùa Ba Vàng còn được biết đến là nơi tiên phong tổ chức lễ Hằng Thuận tại phía Bắc và nhận được sự đồng thuận rất cao từ xã hội. Thầy có thể giải thích rõ hơn về ý nghĩa của hai chữ “Hằng Thuận” và triết lý giáo dục trong gia đình của Phật giáo ẩn chứa sau nghi lễ này?

Thực tế, lễ Hằng Thuận đã xuất hiện ở Việt Nam từ lâu, nhưng trước đây chủ yếu phổ biến ở các chùa khu vực miền Nam. Tại miền Bắc, Ba Vàng là một trong những ngôi chùa đầu tiên đưa nghi lễ này vào đời sống. Hằng Thuận có nghĩa là mãi mãi hòa thuận - "Hằng" là mãi mãi, "Thuận" là hòa thuận.

Cần hiểu rằng, đây không phải là một lễ cưới mà là buổi lễ dành cho những Phật tử, cặp đôi kính tín Phật pháp. Họ về đây trước nhất là để cầu xin sự gia hộ của Phật Bồ Tát. Thứ hai là họ được lắng nghe những lời dạy của chư Tăng trích từ kinh Phật về đạo đức hôn nhân. Đức Phật là bậc Toàn Giác, nên Ngài đã chỉ dạy rất rõ ràng về cách ứng xử giữa vợ và chồng sao cho tốt đẹp nhất.

Ngay từ những ngày đầu về chùa, tôi đã chú trọng tổ chức lễ Hằng Thuận. Đến nay, có lẽ chùa Ba Vàng là nơi tổ chức nghi lễ này đông nhất khi có những lần lên tới 30 cặp đôi cùng tham dự, thậm chí nhiều con em từ nước ngoài cũng trở về đây. Tôi coi đây là một nét văn hóa tốt đẹp để giáo dục giới trẻ, giúp họ có những "tư lương", những hành trang vững chắc trước khi bước vào ngưỡng cửa hôn nhân.

Hành trình gần 20 năm qua cho thấy một kết quả rất an lành. Đó là hầu hết các cặp vợ chồng được làm lễ Hằng Thuận tại chùa đều có đời sống hôn nhân ổn định, không ghi nhận trường hợp nào chia tay. Có những cặp đã gắn bó hạnh phúc suốt gần hai thập kỷ. Tôi tin rằng, khi mỗi gia đình nhỏ tốt đẹp thì xã hội sẽ tốt đẹp hơn.

Mới đây, bộ phim "Hẹn em ngày nhật thực" đã gây sốt toàn quốc, vượt mốc doanh thu hơn 100 tỷ đồng. Nội dung bộ phim một lần nữa khiến công chúng quan tâm sâu sắc đến những sự lựa chọn và đời sống nội tâm ca các tu sĩ, nhà tu hành. Riêng thầy có từng phải đấu tranh gay gắt để buông bỏ những thói quen hay tình cảm riêng tư trước khi quyết định dấn thân vào con đường thanh tu?

- Thời trẻ khi chưa xuất gia, tôi cũng từng xem bộ phim kinh điển "Tiếng chim hót trong bụi mận gai", nhưng lúc đó chưa thể thấu cảm hết được sự hy sinh của đời tu. Thực tế, ai cũng xuất phát từ một con người bình thường trước khi đến với tôn giáo. Mỗi tôn giáo đều có giáo luật riêng; đã chọn dấn thân thì buộc phải tuân thủ nghiêm cẩn. Giống như muốn trở thành một Đảng viên hay Đoàn viên, anh phải thực hiện đúng nội quy; đi tu cũng vậy, muốn đi sâu thì phải rèn mình cho tốt.

Đương nhiên, không phải quy định nào cũng dễ dàng thích nghi ngay từ đầu. Nhất là khi thay đổi từ cuộc sống tại gia tự do, thoải mái mà đi vào khuôn khổ, chắc chắn phải có sự tiết chế. Ví dụ, ngày xưa tôi từng hút thuốc lá rất nhiều, nhưng khi đi tu thì phải bỏ. Những tình cảm riêng tư cũng vậy, khi mình muốn phụng sự số đông, phục vụ cộng đồng thì buộc phải hy sinh cái riêng.

Người đời nhìn vào có thể thấy đi tu là thiệt thòi vì không vợ, không con... Để giữ được đời sống thanh tu như thế, đúng là cần sự cố gắng và nghị lực rất lớn. Trên đời này không có thành công nào mà không trải qua hy sinh. Muốn là học sinh giỏi hay cầu thủ tài năng đều phải khổ luyện; các tu sĩ cũng không ngoại lệ. Chúng tôi phải rèn luyện, phải hy sinh và buông bỏ rất nhiều mới có thể vững bước trên con đường mình đã chọn.

Nhìn lại hành trình gần 30 năm kể từ ngày rời xa giảng đường đại học để dấn thân vào cửa Phật, có khi nào thầy cảm thấy hối tiếc về lựa chọn của mình? Thời điểm này, thầy có mưu cu gì cho chính mình trên con đường tu hành phía trước?

- (Cười) Cũng có nhiều người hỏi tôi câu này. Tính đến nay, tôi theo Phật đã gần 30 năm. Việc tôi vẫn ngồi đây trò chuyện cùng Báo Dân Việt chính là câu trả lời rõ ràng nhất. Tôi không có gì phải hối tiếc.

Đến với Đạo Phật là con đường của sự tự do và tự giác, không ai bắt buộc; nếu không còn lòng yêu kính thì có thể trở về. Với tôi, được theo Đạo Phật là một phúc lành lớn lao. Đây là con đường xứng đáng để tôi thỏa sức cống hiến và phụng sự. Tôi thực sự hạnh phúc với lựa chọn của mình.

Còn nói về mưu cầu, nếu là mưu cầu về danh lợi thế gian thì hoàn toàn không có. Nhưng một người xuất gia thì đương nhiên phải "cầu", đó là cầu sự giác ngộ, cầu chứng đắc Đạo quả để thành Phật. Đó là đích đến cuối cùng và duy nhất của bất kỳ ai là người tu hành.

Tuy nhiên, con người đều khó tránh khỏi những sai lầm do hoàn cảnh hay nhận thức chưa tới. Thầy có từng suy tư hay phải sám hối về những điều đã xảy ra trên hành trình phụng sự chúng sinh”?

-Trong Đạo Phật, Đức Phật dạy rằng: “Đã là chúng sinh thì khó tránh khỏi lỗi lầm, bởi chúng sinh đều còn vô minh"Chỉ khi đạt đến bậc Thánh giác ngộ mới thực sự hết vô minh, còn chúng ta khi chưa chứng Thánh thì đều có lỗi lầm, không lớn thì nhỏ.

Vì thế, với người tu hành, sám hối là một thời khóa bắt buộc hàng ngày. Ngày nào chúng tôi cũng phải sám hối, tối nào cũng phải kiểm tâm để nhận diện lại chính mình. Trong cuộc đời này, ranh giới giữa cái đúng và cái sai đôi khi rất mỏng manh.

Đạo Phật là hướng con người đến chỗ "vô chấp". Nếu chúng ta cứ mãi chi li, dằn vặt quá mức vào lỗi lầm thì cũng chưa thể đạt tới sự giải thoát. Người tu hành phải biết nhận diện lỗi lầm, sửa đổi hàng ngày nhưng cũng phải biết cách vượt qua nó để tâm mình được tự tại. Sửa lỗi là việc của cả một đời, và với tôi, mỗi ngày đều là một cơ hội để tự hoàn thiện mình thông qua việc sám hối và sửa mình.

Các môn sinh trong một khóa tu tập tại chùa Ba Vàng.

Từ kinh nghiệm của mình, thầy làm thế nào để truyền tải năng lượng tích cực đến với những người trẻ khi họ đang sống trong một thế giới đầy biến động, giúp họ hiểu hơn về giá trị của sự tự điều chỉnh để sống tốt đẹp hơn?

Phật giáo Việt Nam có một vị cư sĩ nổi tiếng là Tuệ Trung Thượng Sĩ. Ngài từng dạy vua Trần Nhân Tông thời điểm vua chưa xuất gia, một nguyên tắc căn bản của việc tu đạo. Đó là: “Phản quang tự kỷ” có nghĩa là quay lại soi chiếu chính mình, biết nhìn lại bản thân. Đó mới là người biết tu.

Trong cuộc đời này, điều quan trọng nhất là làm chủ bản thân. Muốn làm chủ bản thân phải làm chủ được tâm mình. Mà muốn làm chủ tâm, không có cách nào khác là phải hiểu nó thông qua việc “phản quang tự kỷ”, hàng ngày xoay lại bên trong để kiểm tra tâm mình.

Thế giới ngày nay con người hướng ngoại quá nhiều mà ít khi chịu quay lại nhìn nhận bản thân. Đó là lý do vì sao giới trẻ dễ bị “động”, thậm chí là “manh động” vì thiếu những phút giây tĩnh lặng. Tâm là chủ của thân, người tu hành phải thiền định lắng tâm cũng là để làm chủ cái gốc đó. Khi không làm chủ được mình, ta chẳng thể làm lợi ích cho ai.

Tôi rất mong mỗi người trong xã hội đều biết dành những giây phút lắng tâm, bởi đó là nền tảng của hạnh phúc. Một người dù sống trên đống tiền vàng mà tâm bất an, không làm chủ được tâm thì không bao giờ có hạnh phúc thực sự. Với tuổi trẻ, việc điều phục tâm là bài học sống còn. Chính vì vậy, tại chùa Ba Vàng, chúng tôi tổ chức khóa học “Khám phá Vườn Tâm” để giúp các bạn trẻ bắt đầu hành trình quay lại hiểu và thương chính tâm hồn mình.

Trở lại với khối lượng công việc khổng lồ từ đối nội đến đối ngoại, cộng thêm việc đón hàng trăm nghìn Phật tử mỗi năm, phải chăng tư duy của một nhà khoa học trước đây đã giúp thầy "quản trị" chùa Ba Vàng một cách hanh thông như vậy? Có bao giờ thầy chịu áp lực trước những "KPI" do chính mình đặt ra, và làm sao để quy tụ được một cộng đồng Phật tử tự nguyện, thậm chí là “cảm hóa” được cả những người từng được coi là "nỗi khiếp s" của xã hội?

Tất nhiên, việc quản trị một hệ thống lớn cần sự triển khai đồng bộ. Tại chùa Ba Vàng hiện có gần 30 Ban chuyên trách, từ Ban giáo dục Thanh thiếu niên đến Ban Từ thiện... Không một cá nhân nào có thể làm hết mọi việc nếu không có sự phân cấp rõ ràng.

Tuy nhiên, điểm khác biệt lớn nhất giữa quản trị nhà chùa và xã hội nằm ở tinh thần tự nguyện. Khi giao nhiệm vụ, tôi hướng các Ban đến mục tiêu hoàn thành tốt nhất trong khả năng. Chính cách các Phật tử làm việc với tâm thế phụng sự, hết lòng cống hiến đã mang lại hiệu quả lớn lao.

Để xây dựng được cộng đồng tự nguyện này là cả một hành trình hàng chục năm chứ không phải một sớm một chiều. Ban đầu, Phật tử cũng là những con người bình thường với đủ hỉ nộ ái ố, thậm chí có người rất ngang ngược, khó bảo. Nhưng trong Phật giáo, giáo dục là gốc để giúp họ giác ngộ. Một khi đã giác ngộ, họ sẽ tự giác chuyển hóa.

Bên cạnh những giá trị tâm linh, chùa Ba Vàng còn được biết đến với nhiều hoạt động thiện nguyện ý nghĩa như hiến máu nhân đạo, hỗ trợ nông sản cho bà con nông dân, hay trao học bổng cho học sinh nghèo... Thầy nhìn nhận thế nào về vai trò của những hoạt động này? Và khép lại cuộc trò chuyện này, thầy có điều gì muốn gửi gắm đến mọi người về triết lý sống cũng như những kỳ vọng cho tương lai của nông nghiệp, nông dân nước nhà?

Trong Phật giáo, cốt lõi chính là "Từ bi và Trí tuệ". Từ bi cứu khổ không chỉ là giáo lý mà còn là hoạt động căn bản để Đạo Phật đi vào cuộc đời. Tại chùa Ba Vàng, chúng tôi coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm. Nhiều năm qua, Nhà chùa đã nỗ lực thực hiện các hoạt động thiết thực như hỗ trợ người có hoàn cảnh khó khăn, giúp đỡ học sinh hiếu học, hay chung tay giải cứu hàng ngàn tấn nông sản cho bà con trong đại dịch Covid-19. Đối với các hoạt động hỗ trợ học sinh vượt khó mà Báo Dân Việt đang triển khai, Nhà chùa rất sẵn lòng hợp tác để lan tỏa yêu thương, giúp xã hội tốt đẹp hơn trong tương lai.

Tôi luôn chiêm nghiệm rằng, gốc rễ của mọi hạnh phúc - dù là hạnh phúc quốc gia, tập thể hay cá nhân, đều phải bắt nguồn từ đạo đức con người. Cổ nhân dạy: “Đức giả bổn dã” (Đạo đức là cái gốc). Thiếu đạo đức, chúng ta không thể có hạnh phúc đích thực. Ngay cả con đường giải thoát của Đức Phật cũng phải xây dựng trên nền tảng đạo đức căn bản.

Một người nông dân cũng phải là một người nông dân có đức. Ngoài sự chăm chỉ, cần phải làm việc với cái tâm trong sạch để cống hiến cho xã hội những sản phẩm tốt nhất. 

"Có đức mặc sức mà ăn". Khi bà con làm ra những sản phẩm sạch và an toàn, chắc chắn sẽ được thị trường đón nhận bền vững. Những gian dối chỉ mang lại lợi ích nhất thời nhưng để lại hệ lụy lâu dài. Từ góc độ quốc gia, tôi cho rằng vẫn phải lấy "Đức" làm đầu, như tình bạn mẫu mực, thủy chung giữa Việt Nam và Cuba là minh chứng cho tinh thần trọng nghĩa tình. Một xã hội muốn phát triển lành mạnh, hạnh phúc thì giáo dục đạo đức phải đi trước một bước.

Xin cảm ơn Thầy Thích Trúc Thái Minh về cuộc trò chuyện!

Thầy Thích Trúc Thái Minh (thế danh Vũ Minh Hiếu, SN 1967 tại Bắc Ninh) sinh trưởng trong gia đình giàu truyền thống hiếu học và đạo đức. Trước khi dấn thân vào con đường tu hành, thầy có nền tảng học vấn xuất sắc, từng là giảng viên tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân và cán bộ nghiên cứu tại Viện Chế tạo máy (Bộ Công nghiệp).

https://danviet.vn/tru-tri-chua-ba-vang-thich-truc-thai-minh-muon-lam-chu-cuoc-doi-truoc-het-phai-lam-chu-vuon-tam-d1419919.html?zarsrc=30&utm_source=zalo&utm_medium=zalo&utm_campaign=zalo